Sáng sớm nhền nhện giăng tơ(1),
Ngày ấy nắng tạnh chẳng mưa được nào.
Sáng sớm nhền nhện nằm im,
Ngày ấy mưa gió tưng bừng chớ lo.
Cỏ chỉ mọc lan trắng ngần,
Dầu trời đương hạn, rỉ mưa dầm dề.

Chớp đêm nhay nháy, gà gáy thì mưa.
Gió mai hiu hiu, diều kêu thì rét (lạnh).
Mưa chẳng qua Ngọ, gió chẳng qua Mùi.
Sáng ngày gió mai, sáng quay gió Nồm.
Trăng quầng thì lặn, trăng sáng thì mưa.

XEM THỜI TIẾT ĐỂ BIẾT MÙA MÀNG TỐT HAY XẤU TRONG 12 THÁNG
(Theo Thiên văn cổ Trung Hoa)

MÙA XUÂN

- Tháng Giêng (đầu mùa Xuân):
Ngẫm xem mùng Một đầu năm,
Trời mù mù tối, tuyết đằm đằm bay.
Được mùa triệu chứng tỏ bày,
Ngày Lập Xuân lạnh, cấy cày nhẹ công.
- Tháng Hai (giữa mùa Xuân):
Tháng Hai nổi sấm đùng đùng,
Gạo hơn thóc rẻ, ăn đong lo gì.
Xuân phân mưa tạnh ít khi,
Có ba ngày Mão, quả thì chín sai.
- Tháng Ba (cuối mùa Xuân):
Tháng Ba mùng Một mưa tai,
Bệnh truyền nhiễm khiến mọi người sợ kinh.
Gió Nam trong buổi Thanh Minh,
Được mùa màng thỏa tấm tình nhà nông.

MÙA HẠ

- Tháng Tư (đầu mùa Hạ):
Tiết Lập Hạ có gió Đông,
Ít khi tật bệnh nhiễm trong thân người.
Mùng Tám tạnh, hoa, quả sai,
Canh Thìn, Giáp Tý(2), sấm thời lúa sâu.
- Tháng Năm (giữa mùa Hạ):
Mưa ngày Đoan Ngọ(3) cũng mầu,
Sấm ngày Mang hiện, phòng thâu mùa màng.
Hạ chí gió Tây Bắc sang,
Rau dưa bị nắng, như rang héo tàn.
- Tháng Sáu (cuối mùa Hạ):
Trong ba ngày Phục(4)nóng rang,
Ba đông sương tuyết, chứa chan lạnh lùng.
Lúa không kết hột đâm bông,
Mưa ngày Hạ chí niên phong cũng mừng.

MÙA THU

- Tháng Bảy (đầu mùa Thu):
Lập Thu mưa gió tưng bừng,
Thanh bông, hoa quả được chừng nửa thôi.
Xử Thử không mưa, than ôi!
Ví bằng kết quả ắt rồi rụng đi.
- Tháng Tám (giữa mùa Thu):
Thu phân mây trắng tứ bề,
May mắn lúa muộn, dân quê reo mừng.
Ví bằng mưa sấm tưng bừng,
Sang Đông gạo kém, xiết chừng nao nao.
- Tháng Chín (cuối mùa Thu):
Mùng Một tháng Chín sương gieo,
Ngày mùng Chín tạnh, Đông nào còn mưa.
Mặt trăng đỏ, bệnh dây dưa,
Sấm trong tháng Chín, gạo vừa giá cao.

MÙA ĐÔNG

- Tháng Mười (đầu mùa Đông):
Lập Đông ngày Nhâm lo sao,
Sang năm những lúa ruộng cao nhọc lòng.
Gặp ngày Nhâm Tý hải hùng,
Tai thương, tật bệnh, buộc lòng người lo.
- Tháng Mười Một (giữa mùa Đông):
Mùng Một tháng Một tính cho,
Gió Tây trộm giặc, tuyết mù đậu ma.
Đông chí tạnh, bóng ác nhòa,
Sang năm hẳn hát khúc ca thái bình.
- Tháng Chạp (cuối mùa Đông):
Mùng Một tháng Chạp cho tinh,
Gió Đông lục súc xem tình tổn thương(5).
Tuyết thì đại hạn rõ ràng,
Nhược bằng lạnh tẻ, mùa mang phong thu.

(1) Nghĩa là nó giăng tơ làm ổ.
(2) Ngày Canh Thìn, Giáp Tý và những tiết Thanh Minh, Lập Xuân, Lập Hạ, Mang Chưởng v.v… thì coi theo trong lịch Tam Tông Miếu có ghi rõ ràng.
(3) Ngày Đoan Ngọ là ngày mùng 5 tháng Năm.
(4) Là ngày Sơ phục, Trung phục và Mạt phục, xem trong lịch Tam Tông Miếu có ghi sẵn.
(5) Nghĩa là gió thổi mạnh.

Tìm ở google:

  • ca dao tuc ngu ve thoi tiet
  • ca dao ve thoi tiet
  • nhung cau ca dao tuc ngu noi ve thoi tiet
  • những câu ca dao tục ngữ về thời tiết
  • nhung cau tuc ngu noi ve thoi tiet
  • ca dao tuc ngu noi ve thoi tiet
  • nhung cau ca dao noi ve thoi tiet
  • tuc ngu ve thoi tiet
  • cau ca dao noi ve thoi tiet
  • cac cau ca dao ve thoi tiet