Thập Can có mười chữ là: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Mỗi chữ hiện ra hợp với vận mạng tốt xấu, sang, hèn v.v… của mỗi người Nam và Nữ.
CHỮ GIÁP
(Giáp Tý, Giáp Tuất, Giáp Thân, Giáp Ngọ, Giáp Thìn, Giáp Dần)

Nhân sinh Giáp tự biến thành Điền,
Phú quí vinh hoa thực lộc thiên.
Phụ mẫu huynh đệ tha biệt sở,
Phu thê nhị đại hậu song toàn.

Chữ Giáp số có đất điền,
Bằng không cũng hưởng lộc tài tự nhiên.
Anh em nào có cậy trông,
Tha phương lập nghiệp mà nên cửa nhà.
Vợ chồng đổi thay nhiều lần,
Trai đổi thay vợ, gái đổi thay chồng.
Cho hay duyên số tại trời,
Khá làm âm đức, phúc dành hậu lai.
Số này tuổi nhỏ tay không,
Lớn lên có của,vợ chồng làm nên.

ẤT
(Ất Hợi, Ất Dậu, Ất Mùi, Ất Tỵ, Ất Mão, Ất Sửu)

Nhân sinh Ất tự biến thành Vong,
Gia thất tiền tài tất thị không.
Lục súc tị phiền du vong bại,
Phu thê biến cải định nan phùng.

Người sinh chữ Ất gian nan,
Lắm khi dào dạt, lắm lần tay không.
Nuôi vật, vật cũng tang thương,
Ở cùng bậu bạn chẳng phần đặng yên.
Vợ chồng đổi thay lương duyên,
Trai đổi thay vợ, gái đổi thay chồng.
Số này sớm cách quê hương,
Ra ngoài lập nghiệp mới nên cửa nhà.
Cho nên số ở Thiên tào,
Người hiền lận đận, tuổi già nhờ con.

CHỮ BÍNH
(Bính Dần, Bính Tý, Bính Tuất, Bính Thân, Bính Ngọ, Bính Thìn)

Nhân sinh Bính tự biến thành Tù,
Lxo thiểu vô an hạn bất chu.
Sở hữu ngoại nhân y hữu định,
Thân cư quan quỉ bá niên trường.

Chữ Bính số cũng quạnh hiu,
Người sinh chữ ấy trọn đời âu lo.
Tuổi nhỏ bịnh hoạn ốm đau,
Lớn tuổi cô quạnh một mình thảm thương.
Số này lập nghiệp tha phương,
Có chí tu niệm kính tin Phật Trời.
Nếu mà giữ dạ hiền lương,
Tuổi già sẽ được lộc tài tự nhiên.
Những người có chí thiện nhân,
Có khi lao khổ, có ngày thảnh thơi.

CHỮ ĐINH
(Đinh Mão, Đinh Sửu, Đinh Hợi, Đinh Dậu, Đinh Mùi, Đinh Tỵ)

Nhân sinh Đinh tự biến thành Du,
Gia thất tiền tài thường đảo lộn.
Thiếu niên lao khổ thân uổng công phu,
Trung vận trùng lai phú đắc vinh.

Chữ Đinh biến thành chữ Du,
Số nhỏ tật bịnh ốm đau thường thường.
Lắm lần tai nạn thảm thương.
Nhờ có hồng phúc Phật Trời chở che.
Lớn lên thông tuệ khác thường,
Có quyền có chức, có tài tự nhiên.
Có chí sáng tác mọi ngành,
Có tài có đức cầm quyền điểm binh.
Xét xem qua số nợ duyên,
Trai đôi ba vợ, gái thì truân chuyên.
Nết na, đức hạnh dung hòa,
Cơ mà lại cũng chịu vui chiều buồn mai.
Cho hay căn số tự Trời,
Duyên đầu lỡ dở, hiệp hòa duyên sau.
Có căn tích thiện tu nhân,
Tuổi già chung hưởng lộc tài ấm no.

CHỮ MẬU
(Mậu Thìn, Mậu Tý, Mậu Tuất, Mậu Thân, Mậu Ngọ, Mậu Dần)

Nhân sinh Mậu tự biến thành Quả,
Phiêu phất tha phương định thất gia.
Cô độc một thân không chỗ định,
Hành thân phảm mại lạc ngâm nga.

Chữ Mậu cô quạnh tha phương,
Lìa nhà, lìa xứ, lắm lần gian nan.
Anh em ruột thịt chẳng hòa,
Tha phương bậu bạn chỉ nhờ người dưng.
Gái thì lận đận lương duyên,
Khi thì vui vẻ, khi tan nát lòng.
Đôi lần mới dặng thành song,
Tuổi trẻ lao khổ, tuổi già nhờ con.
Tính hay tích thiện từ hòa,
Tin Trời tưởng Phật, lòng hằng ái tha.
Những ai có chí tu nhân,
Tuy rằng hoạn nạn, phúc còn hậu lai.

CHỮ KỶ
(Kỷ Ty, Kỷ Mão. Kỷ Sửu, Kỷ Hợi, Kỷ Dậu, Kỷ Mùi)

Nhân sinh Kỷ tự biến thành Ân,
Gia thất tiền tài mạng giàu sang.
Gia sự đa tài, sinh con thảo,
Hữu thời tấn thối tợ phi vân.

Chữ Kỷ biến thành chữ Ân,
Tính tành mau mắn, làm ơn cho người.
Tấm lòng trung trực vẹn bề,
Làm ơn nên oán nhiều lần lo toan.
Của, con có sẵn tuổi già,
Tuổi trẻ lao khổ, tha phương lập thành.
Nhiều khi tụ tán như sương,
Khi ăn chẳng hết, lúc thì tay không.
Nợ duyên tan vỡ buồn lòng,
Đôi lần ly hiệp mới nên gia đình.
Khá nên tích thiện tu thân,
Tuổi già sẽ thấy môn đình sum vinh.

CHỮ CANH
(Canh Ngọ, Canh Thìn, Canh Dần, Canh Tý, Canh Tuất, Canh Thân)

Nhân sinh Canh tự biến thành Cô,
Số ấn công hầu lưu đất khách.
Gia thất gây nên thừa tổ đức,
Phúc tài tái tận mãi vinh hoa.

Chữ Canh biến thành chữ Cô,
Số ấn công hầu nên danh phận.
Bằng không thì cũng lắm nghề khép thay.
Vợ chồng cách trở sơn xuyên,
Đôi lần ly hiệp mới nên cửa nhà.
Gái thì hiu quạnh muộn màng,
Bằng không thì cũng đôi lần mới nên.
Số này tu niệm thì hay,
Hậu lai sẽ hưởng phúc dày lộc cao.
Có đâu thiên vị người nào,
Số cao thì hưởng lộc tài tự nhiên.

CHỮ TÂN
(Tân Mùi, Tân Tỵ, Tân Mão, Tân Sửu, Tân Hợi, Tân Dậu)

Nhân sinh Tân tự biến thành Tan,
Tính khí hiền lương, lập nghiệp nan.
Phu phụ nhất tâm lưỡng nhân thú,
Bằng hữu cự tộc rất vinh quang.

Chữ Tân biến thành chữ Tan,
GHia đình dời đổi đắng cay muôn vàn.
Một thân tự lập mà nên,
Tha phương lắm độ, phong sương hải tần.
Lương duyên đổi thay đôi lần,
Tuổi già phú túc miên miên thọ trường.
Những người có chí thiện nhân,
Trời dành hậu quả hưởng nhờ phúc dư.

CHỮ NHÂM
(Nhâm Thân, Nhâm Ngọ, Nhâm Thìn, Nhâm Dần, Nhâm Tý, Nhân Tuất)

Nhân sinh Nhâm tự biến thành Vương,
Thân thọ mạng trường thiên số chung.
Tị hiểm hung đồ tha biệt sở,
Thân cư quan quí hậu an khương.

Chữ Nhâm biến thành cữ Vương,
Thân thì thọ số, mạng thì vinh sang.
Có lần cách trở gia hương.
Xứ xa lập nghiệp, vinh sang ai bì.
Số này tổ nghiệp không nhờ,
Thân lưu đất khách lập nên cơ đồ.
Trai thì vợ đôi vợ ba,
Gái thì số cũng đôi lần mới nên.
Khá nên tích đức thiện nhân,
Hậu lai sẽ hưởng phúc trời ấm no.

CHỮ QUÝ
(Quý Dậu, Quý Sửu, Quý Tỵ, Quý Hợi, Quí Mùi, Quý Mão)

Nhân sinh Quý tự biến thành Thiên,
Tiền hậu phu thê lộc y nhiên.
Chức phận văn chương đa phú quí.
Trí huệ vinh hoa hưởng tuổi thọ trường.

Chữ Quý biến thành chữ Thiên,
Trai thời chức phận, gái thời chính chuyên.
Số này cũng có đất điền,
Gia môn phú quí thọ trường bền lâu.
Vợ chồng hòa thuận đủ điều,
Khi ra phong nhã, khi vào hào hoa.
Nếu mà tích thiện tu thêm,
Ngày sau con cháu miên miên cửu trường.

Tìm ở google:

  • ngoc hap chanh tong
  • chữ bính trong tử vi
  • Xem boi ngoc hap chanh tong
  • Thap can chiet tu
  • chữ bính
  • chữ tân trong tử vi
  • xem ngoc hap can luong chi
  • tu vingochap
  • ngọc hạp chánh tông toàn tập
  • tư vi ngoc hap